LÁ THƯ MỤC VỤ
Một mình thánh Luca thuật lại dụ ngôn chúng ta nghe trong bài Tin Mừng tuần nầy. Matthêu, Márcô và Gioan không thuật lại câu chuyện hai người lên đền thờ cầu nguyện. Dĩ nhiên không phải dụ ngôn nào Chúa nói đều được cả bốn tác phẩm Tin Mừng ghi lại. Riêng thánh Luca rất thích về dụ ngôn. Trong số chừng 50 dụ ngôn Chúa nói, một mình Luca ghi lại trên dưới 40. Ông không thể nào quên dụ ngôn hai người cùng lên đền thờ cầu nguyện. Có lẽ Luca đã rất chăm chỉ khi nghe Chúa kể, nên chúng ta mới có một dụ ngôn rất lý thú để học hỏi.
Trước tiên, thánh Luca xác nhận rằng : “Đức Giêsu đã nói dụ ngôn nầy với những kẻ tự tin rằng mình là công chính và khinh miệt người khác”. Những “kẻ ấy” là ai ? Theo câu chuyện chúng ta hiểu họ là các biệt phái thời Chúa Giêsu. Khi nghe vậy, xin đừng vội mất cảm tình với họ, trái lại họ rất được kính trọng và được coi là công chính trong Do Thái Giáo, vì không ai giữ luật Môsê hơn họ. Chính việc tuân thủ và chấp hành lề luật rất cặn kẽ nầy khiến cho họ tự tin, ý thức mình là công chính rồi khinh miệt người khác. Họ biết mình “hoàn hảo” và cứ thế mà ung dung giữ đạo, không mảy may sợ phán xét của Chúa. Hôm nay Chúa muốn triệt hạ thái độ đó.
Dụ ngôn nầy không nhằm dạy cách thức cầu nguyện cho bằng phủ nhận một cách sống đạo và một sự công chính sai lầm. Người biệt phái đến để kể công chứ không phải cầu nguyện. Ông quen phô trương sự thánh thiện trước mặt người khác nên cũng có thái độ phô trương khi đến trước mặt Chúa. Ông đâu có để ý gì đến Chúa mà chỉ quan tâm đến mình và sự nghiệp của mình. Ông cầu nguyện với chính mình chứ không cầu nguyện với Chúa. Ông nói cho chính ông nghe và cùng lắm cho càng nhiều người nghe càng tốt. Ông đâu cần Chúa biết vì ông không cần Chúa giúp gì cả. Ông cầu nguyện để thêm tự tin và phô trương, thế thôi.
Còn người thu thuế đứng lẻn đàng xa, không dám ngước mắt lên, cứ cúi đầu đấm ngực mà xưng thú mình là đứa tội lỗi. Ông có thái độ kính sợ Chúa và khiêm nhường thống hối ăn năn. Ông không dám kể công vì ông không có gì để kể ngoại trừ tội lỗi ! Chúng ta đừng ngạc nhiên vì ông không kể tội ông ra. Có lẽ không cần thiết nữa, vì người biệt phái đã kể ra hết rồi. Điều mà ông chú tâm là tha thiết khấn xin Chúa thương xót thân phận đầy tội lỗi của mình. Thật vậy, lòng đạo đức chân thành nằm ở nơi tâm hồng nhìn nhận mình nhớp nhơ tội lỗi và thống hối ăn năn, nhất là tha thiết van nài lòng thương xót vô biên của Chúa.
Lúc tôi mới về giáo xứ Good Shepherd, Lockridge, tôi giúp các em nhỏ thực tập xưng tội lần đầu. Thật vui khi nghe một em xưng tội sau đây ( nên nhớ đây là việc thực tập chứ không phải bí tích giải tội thật nên tôi mới dám kể lại ) “Thưa cha, con có bỏ lễ Chúa Nhật hơn 400 lần”. Chúa ơi ! Em bé đó chừng 8 tuổi thôi ! Ngoại trừ trường hơp người hướng dẫm em xét mình sai, tôi tin rằng em không có tội vậy mà em vẫn nhận tội. Lúc đó tôi mới sực nhớ lại thân phận mình, trong 10 năm tù ngục, tôi đã phạm lỗi nặng với điều răn thứ 3 của Chúa và các điều răn khác của Hội Thánh là đã bỏ lễ Chúa Nhật 520 lần, đã không dự các lễ buộc và các lễ trọng, đã không giữ Mùa Phục Sinh…v.v..chỉ riêng việc ăn chay và kiêng thịt thì tôi hoàn toàn không vi phạm (vì suốt năm chỉ có ‘Bo Bo’ ăn chung với khoai mì chấm nước muối, Tết và lễ lớn mới hy vọng nhìn thấy một miếng thịt heo không to hơn ngón tay út). Xưng tội thì vẫn có thể lén lút làm được nhưng việc tham dự Thánh Lễ thì càng ngày càng khó, nhất là gần đến dịp lễ lớn là các linh mục bị cách ly và bị canh chừng nghiêm nhặt lắm.
Đêm đầu tiên sau khi ra khỏi tù, tôi về tá túc tại cộng đoàn số 8 Lê Lợi của Dòng La San (gần chợ Đầm–Nha Trang). Sáng hôm sau, trước Thánh Lễ, tôi xin gặp Cha Piô Đỗ Văn Đông (hiện đã qua đời) để xưng tội. Tôi xưng những tội tôi vừa viết bên trên, tôi thấy Cha mỉm cười và chúc mừng tôi được ra khỏi tù rồi ban ơn Xá Giải chứ không khuyên can gì. Qua Cha Đông, Chúa ban bình an và tha thứ cho tôi. Càng nhìn nhận mình tội lỗi, Chúa Nhân Từ càng thương xót hơn. Tôi tin rằng chính Chúa công-chính-hoá con người, chứ tự sức mình con người không thể đạt được sự công chính. Linh mục Phạm Quang Hồng.